10 thg 11, 2011

HẠ LONG - LỊCH SỬ MỘT CÁNH BUỒM

Hạ Long - một kỳ quan sắp được công nhận của thế giới nếu chỉ đơn thuần mang một vẻ đẹp tự nhiên với những ngọn “núi dựng giữa trời” thì có lẽ không thể nói hết được những bí ẩn thần kỳ của nó. Từ nơi “danh lam thắng cảnh” kỳ ảo này có một ẩn tàng lịch sử vô cùng to lớn, một bí mật đã ngủ yên hàng ngàn năm cần thức dậy và được đặt lên đúng với tầm của nó…chưa kể đó cũng là một phần không thể thiếu, điểm xuyết cho nét đẹp Hạ Long thêm thơ mộng…đó là những chiếc thuyền buồm.
Vậy những con thuyền của Hạ Long ra đời từ khi nào? Hình thành cấu trúc thuyền ra sao? Những cánh buồm có thể chạy ngược gió được áp dụng vào lúc nào? Hãy cùng trôi ngược dòng lịch sử để tìm về cội nguồn của chúng.
Những con tàu Việt đầu tiên xuất hiện ở Hạ long.
Từ tháng 12/2006-1/2007, các nhà khảo cổ lại tiến hành khai quật lần 2 tại di chỉ Cái Bèo trên đảo Cát Bà, huyện Cát Hải thành phố Hải Phòng có niên đại từ 7000 - 4000 năm trước Công Nguyên, kết quả là đã thu được 137 hiện vật bằng đá, 1.424 mảnh gốm thời tiền sử và 568 tiêu bản di cốt động vật, vỏ nhuyễn thể biển cùng nhiều tài liệu về địa tầng, di tích lịch sử khác. Qua đó, có thể khẳng định Cái Bèo là nơi cư trú của quần thể ngư dân tại một làng chài biển cổ có quy mô lớn nhất nước ta. Tại đây, cư dân tiền sử đã sinh sống lâu dài và phát triển trải qua nhiều thời đại, từ Trung kỳ đá, Hậu kỳ đá đến Sơn kỳ đồng thau; phản ánh quá trình phát triển của người Việt tại khu vực từ văn hoá Cái Bèo sang văn hoá Hạ Long.
Cách đây 2000 năm trước công nguyên, Vịnh Hạ Long hình thành khi nước biển dần rút xuống, dấu vết của người tiền sử đã được phát hiện tại các di chỉ Hang Luồn, Soi Nhụ và Tiên Ông... gồm đồ đá và tàn tích thức ăn, người tiền sử trong thời kỳ văn hóa này vẫn đề cao ngư nghiệp như một phần trong đề sống xã hội. “Một phát hiện gây chấn động những năm 1960 tại di chỉ Tấn Mài - vịnh Hạ Long với những mảnh ghè của người vượn và tiếp đó là khai quật được những mũi tên đồng của thời Hùng Vương”(trích bài báo “có một nền văn hóa Hạ Long” trên báo Tuổi Trẻ).
Bên cạnh đó, William Meacham - một nhà khảo cổ học khi nghiên cứu bản đồ địa hình đáy biển, cho biết lúc xưa bờ Biển Đông tương đối bằng phẳng nhưng bị sông, hồ nước chia cắt khắp nơi. Khoảng 14,000 năm trước đây, bè tre đã xuất hiện như phương tiện di chuyển chính yếu. Meacham còn tin rằng 6,000 - 4,000 năm trước Tây lịch, những nền văn minh vùng châu thổ sông Hồng bắt đầu nảy nở. Đồ gốm đã được nặn trên bàn xoay ở Đậu Dương. Khoa khảo cổ cũng tìm thấy dây câu, lưới bắt cá và thuyền độc mộc. Phần lớn dân cư sống bằng ngư nghiệp. (4,000 năm TTL..). Nhiều người đặc biệt thích nghi với môi trường nước, một số nhỏ hơn sống suốt đời trên bè, trên ghe. Một vài nhóm trở thành những bộ lạc hải du. Đời sống đó thậm chí vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Sau đây xin trích tiếp một đoạn trên bài báo “có một nền văn hóa Hạ Long” :
-Chỉ tay vào phía trong khoang thuyền, anh Nhật - một ngư dân vạn chài Hạ Long - nói rằng bao đời nay con thuyền của dân chài Hạ Long vẫn thế, dù to hay nhỏ đều có ba khoang: khoang mũi, khoang giữa và khoang sau.
Trong đó, khoang giữa là khoang chính có mui chắc chắn và cố định dùng để thờ tự ông bà và cũng là nơi ngủ của bố mẹ và con cái nhỏ. Khoang mũi là nơi để ngư cụ, thả lưới và giăng câu. Khoang sau (khoang lái) thường có mui, là nơi ngủ của con cái lớn chưa lập gia đình, và khi nào lập gia đình thì hai bên gia đình phải gom góp làm một thuyền mới cho đôi trẻ một chiếc thuyền như thế)
Nhà khảo-cổ Malcolm F. Farmer, trong khi đi tìm nguồn gốc thuyền bè, đã thấy rằng Vịnh Bắc Việt là nơi có chứng cớ nhiều truyền thống liên hệ nhất giữa những loại bè thời cổ, như vậy có thể từ cách đây khoảng 7000- 4000 năm trước công nguyên, các thuyền, bè tre đã được sử dụng rộng khắp trong văn hóa Việt.
Như vậy những con thuyền đầu tiên của Việt Nam đã hình thành trước cả sự ra đời của vịnh Hạ Long, những ngư dân Việt đã với cuộc đời hoàn toàn sống trên thuyền đã theo nước biển di dân đến Hạ Long và tồn tại cho đến ngày nay.
Bên cạnh đó, tại Kiến An là nơi cách vịnh Hạ Long không xa người ta phát hiện thấy di chỉ trống đồng, một cổ vật Việt Nam có niên đại từ khoảng 1000-600 TCN trong thời kỳ của các vua Hùng. May mắn hơn, với những con thuyền được chạm khắc trên trống đồng ta có thể phần nào hình dung ra tướng mạo của những con thuyền đầu tiên trên Vịnh Hạ Long thời đó.

Bánh Lái của ai?


Với bánh lái ở phía sau tàu, ta có thể khẳng định văn hóa Hạ Long cũng như những nền văn hóa đầu tiên của người Việt đã khai sinh ra bánh lái vì chiếc bánh lái đầu tiên được tìm ra ở Trung Quốc là trên một món đồ gốm ở Quảng Châu vào thế kỷ thứ 111 TCN, trong khi niên đại của của trống đồng là 600-1000 TCN thì không thể nào chối cãi, chưa kể nơi tìm ra món đồ gốm này là kinh đô Phiên Nhưng của nhà Triệu (nước Nam Việt), ta thấy rõ ràng là có một sự mạo nhận Văn hóa ở đây.

Hình Bánh lái trên thuyền Quảng-Châu với phần ghi chú "không phải của người Tàu " (China's Civilization, Arthur Cotterell & David Morgan, New york, 1975.)
Như vậy, ta đã có thể phần nào khai mở một vài bí ẩn lịch sử về những con tàu trên Vịnh Hạ Long.

Cấu trúc thân thuyền.
Bà Françoise Aubaile Sallenave trong cuốn đề cập rất kỹ lưỡng đến cách thức đóng ghe rất tiến bộ của Việt Nam. Theo tác giả này, hai đặc tính tiên quyết trong việc kiến trúc là ghe tàu phải nhẹ nhàng và có sức chịu đựng. Cả hai ưu điểm này đều tìm thấy ở các loại thuyền Việt Nam. Trong khi kỹ thuật Tây phương cố gắng cải tiến làm sao cho sườn và vỏ Tàu được cứng cáp thì người Việt Nam từ nhiều ngàn năm qua, vẫn tiếp tục giữ truyền thống đóng tàu cho mềm dẻo. Bà Sallenave cũng như những kỹ thuật gia kim thời mới đây đã khám phá ra rằng muốn kiến trúc cứng cáp thì vật liệu đóng thuyền phải nặng, quán tính do đó cũng tăng theo, dễ bị bể vỡ vì sóng gió; trong khi thuyền nhẹ và mềm dẻo thì lực tác dụng của sóng nước được phân phối đều trên toàn thể thân thuyền nên sức chịu đựng gia tăng và thuyền được bền bỉ hơn.
Hình So sánh Kiến-trúc Tàu thuyền Việt-Nam và Âu-Châu.

Kỳ tích cánh buồm
Một số khoa học gia, trong đó có Edwin Doran Jr., Christian J. Buys & Sheli O. Smith đã nghiên cứu và phát hiện rằng cánh buồm đầu tiên xuất hiện giữa vùng Biển Đông (Việt Nam / Ðông Dương) và New Guinea. Đồ gốm và đá mài tìm thấy trên các đảo trong vùng này chứng minh những giao tiếp bằng đường biển đã xảy ra trước khoảng thời gian 1500 trước Tây Lịch (TTL), theo sách Doran, 1973: trang 49. Khuynh hướng chung ngày nay đã xác nhận rằng đồ gốm, đá mài và các tiến triển văn minh đầu tiên đã khởi đi từ vùng bìa lục địa tại Việt Nam.
Khảo cổ học tuy xác nhận buồm hình chữ nhật đã có ở Ai cập 4,000 năm TTL nhưng cũng cho biết dáng vẻ ấy ít thay đổi suốt mấy ngàn năm sau đó. Thuyền Ai Cập có thể rất to lớn nhưng thường thường di chuyển được nhờ mái chèo và chỉ hải hành cận duyên. Qua đến ngày tàn của đế quốc này (khoảng 1,200 TTL), loại thuyền buồm thực sự của người đảo Crete cũng như dân xứ Phoenicia mới xuất hiện.
Ở Á Đông, người ta có thể thừa nhận trong khoảng thiên kỷ thứ 4 hay thứ 3 TTL, người Đông Dương (và những dân cư Bách Việt sống trên đất Tàu ngày nay) đã sử dụng ghe thuyền đi biển. Theo lẽ đương nhiên, bè mảng chạy buồm có khả năng đi biển đã xuất hiện trước khi ấy một thời gian (Doran, 1971.)
Nhà khảo cổ Malcolm F. Farmer, trong khi đi tìm nguồn gốc thuyền bè, đã thấy rằng Vịnh Bắc Việt là nơi có chứng cớ nhiều truyền thống liên hệ nhất giữa những loại bè thời cổ với thuyền độc mộc và với các ghe thuyền kiến trúc có sườn, có khung sau này. Farmer cho rằng chính trên các loại bè, người ta đã phát minh cánh buồm đầu tiên. Chắc chắn "Bè có trang bị Buồm" là phương tiện viễn duyên đầu tiên của nhân loại.
Theo Robert Temple, tác giả cuốn sách "The Genius of China, 3,000 years of Science, Discovery and invention", sự tiến triển vĩ đại nhất về kỹ thuật chạy buồm là ở chỗ người Á Đông đã đi từ chiếc buồm đơn độc, vuông vức hình chữ nhật chuyển sang loại buồm với những cây nẹp ngang, có thể trở mạn để đón gió ở cả mặt sau (fore and aft rig - lug sails) mà nhờ đó thuyền có thể chạy chếch ngược về hướng gió (to sail into the wind.) Ông cũng cho rằng :"Không ngoa khi nói rằng thế thượng phong của Hải quân Anh phần lớn nhờ ở tình trạng sẵn sàng áp dụng những phát minh (Á Đông) nhanh hơn các cường quốc Âu Châu khác".
Vì Người Tàu thời đó còn đang sinh sống trên thượng nguồn sông Hoàng Hà, rất xa biển; nên việc tạo ra những cánh buồm có thể sử dụng hai mặt để đi ngược gió, chắc chắn là phải của người Việt, lúc đó đang cư ngụ ở vùng duyên hải, thực hiện. Các tác giả trên cũng đồng ý rằng kỹ thuật chạy buồm Á Đông đã ảnh hưởng sang Tây phương, ngược lại với chiều hướng suy tưởng thông thường.
Rất nhiều chi tiết chứng minh rằng Hải Quân thời Hùng Vương cách nay khoảng 1000 TCN năm đã tiến bộ đến độ ít người ngờ tới. Các sách nghiên cứu về Trống Đồng như cuốn "Trống Đông Sơn", do Viện Khảo Cổ Học biên soạn (Hà Nội, 1987), trình bày rất nhiều chi tiết lý thú:
- Chiến thuyền đi biển chạy buồm. Loại này không có thủy binh chèo chống, có trụ để dựng cột buồm.


Hình Nỏ thần trên chiến thuyền đời Hùng Vương. Pháo-tháp có lẽ được trang bị cơ quan máy móc để nạp pháo tiễn liên hoàn. Loại Nỏ thần này được ghi nhận trong sử Trung Hoa.
Hình Chiến thuyền có lầu (lâu-thuyền). Pháo tiễn hướng về trước mũi hay sau lái tuỳ theo nhiệm vụ tác chiến.
Một điểm đáng kể ra nữa là nhiều chiến thuyền được trang bị ở phía mũi một trang cụ giống như cây xiếm. Trang cụ loại này giúp cho thuyền chạy buồm có thể thay đổi hướng đi hay giữ đúng hướng không cần người lái.

Thuyền Đông Sơn, ngoài bánh lái ra(1), còn có trang cụ như cây xiếm dùng chống giạt (2). Cột buồm nằm ở nửa phần thuyền phía trước (3).
Dưới: Ghe Nang ở Trung phần Việt Nam với giả thuyết về sự tiến hoá của bánh lái và cây xiếm, đi từ những trang cụ đã có từ cổ thời.
Như vậy, trong khoảng 1000 năm TCN con tàu buồm Vịnh Hạ Long đã có cấu trúc gần như hoàn chỉnh với thân thuyền, cột buồm, bánh lái. Con tàu ra đời từ khi Vinh Hạ Long mới hình thành và cùng với những con tàu buồm khác ở dọc duyên hải Việt Nam một minh chứng hùng hồn cho văn minh hàng hải Việt Nam và những đóng góp của hàng hải Việt Nam cho văn minh thế giới.
Hình Các kiểu ghe thuyền Việt Nam đầu thế kỷ 20 theo Pierre Paris

Một ngàn Năm Bắc thuộc và sự hoàn chỉnh cuối cùng.


Trong một ngàn năm Bắc thuộc, văn hóa Hùng Vương, Âu Lạc đã bị vùi dập trong các cuộc đàn áp đẫm máu, cộng với sự xâm thực của văn hóa Trung Hoa. Nền hàng hải Việt Nam không có gì phát triển vượt bực trong thời gian này, những con tàu buồm Hạ Long trong thời điểm này cũng không có sử liệu nào nhắc tới.
Khi Việt Nam dành được độc lập vào năm 883 SCT với chiến thắng Bạch Đằng, việc giao thương hàng hải tại Việt Nam mới trở lại. Hạ Long lúc này với địa hình đặc biệt của mình có nhiều đảo đất, đảo đá ngang dọc, chia cắt biển thành nhiều vũng, luồng lạch sâu và kín gió. Thuyền bè neo đậu an toàn, không bị gió bão uy hiếp. đã trở thành một hải cảng sầm uất cho đến ngày nay. Theo Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Kỷ Tỵ, (Đại Định) năm thứ 10 (1149). Mùa xuân, tháng hai, thuyền buôn ba nước Trảo Oa, Lộ Lạc, Xiêm La vào cảng Hải Đông (đảo Cát bà gần vịnh Hạ Long) xin cư trú buôn bán, bèn cho lập trang ở hải đảo, gọi là Vân Đồn, để mua bán hàng hóa quí, dâng tiến sản vật địa phương”. Năm 1964, trong một lần khai quật khảo cổ tại thương cảng cổ Vân Đồn, các nhà khảo cổ đã tìm được những đồng tiền Tây Ban Nha đúc từ năm 1762, chứng tỏ nó đã qua nhiều cửa khẩu trước khi đến Vân Đồn, điều đó cho thấy phạm vi buôn bán của thương cảng Hải Đông - vịnh Hạ Long ngày ấy đã vươn tới một số nước Tây Âu.
Trong Indochine D’voilles xuất bản năm 1949 cũng có những đoạn mô tả Cảng Hạ Long như sau:” cảng vịnh Apowan (đảo cát Bà) phủ đầy các thân thuyền, buồm, tàu chở hàng, thuyền du du, thuyền tam bản : Sự pha trộn màu sắc cờ đuôi nheo, cờ hiệu, những bản đồng vàng ánh, những dây kéo tới đỉnh cột buồm, chính giữa những tiếng gọi í ới, tiếng hét đinh tai, tiếng ròng rọc cót két, những tiếng rao hàng đơn điệu văng vẳng trên sông nước, tiếng trống dồn, tiếng cồng chiêng mừng việc trang bị một ghe mành mạn cao quay lại Kouang Tong hay cảng nào đó của Foutchéou hay Foukien ».
Trước việc Cát Bà trở thành một thương cảng lớn, con tàu buồm Hạ Long thông qua sự giao thoa văn hóa đã dần dần biến đổi hoàn chỉnh và trở thành con thuyền buồm như ta đã biết qua các tranh vẽ về Hạ Long ngày nay với hai cánh buồm được sơn màu đỏ, hung, hay trắng ngà.Với cấu trúc buồm gồm một buồm chính và một buồm phụ nhằm tăng khả năng điều động, kể cả khi đi ngược nước. Tốc độ trong điều kiện thuận lợi có thể lên tới 14 hải lý một giờ với trong tải từ 25 40 tấn, bánh lái được cải tiến có khả năng di chuyển lên xuống để phù hợp với dòng nước xiết và nông trên vịnh, các tàu Trung Hoa buôn bán ở khu vực cảng Hạ Long này cũng được đóng theo. Ta khó lòng nhận biết sự khác biệt về hình dáng của các tàu junk từ hong kong , cảng Cam pốt hay vịnh Apowan hay tàu Vịnh Hạ Long chỉ có những người có kiến thức chuyên sâu về tàu thuyền và văn hóa mới có thể phân biệt.

Cái chết của những cánh buồm.
“Nghệ sĩ nhiếp ảnh Đỗ Kha là người sinh ra và lớn lên trên vịnh Hạ Long, anh cho hay hiện nay hầu hết dân chài đã dùng thuyền có lắp máy thủy, không còn dùng buồm như trước.
Năm 2003, cánh buồm cuối cùng của gia đình ông Nguyễn Văn Tuấn, ngư dân làng chài Vông Viêng, đã được bán cho một gia đình ngư dân của đảo Hà Nam (Yên Hưng), kể từ đó vịnh Hạ Long vắng bóng những cánh buồm nâu thơ mộng.” trích “ có một văn hóa Hạ Long –báo tuổi trẻ)
Ngày nay, với sự thay đổi của công nghệ và sức mạnh của chiếc máy thủy, những cánh buồm dường như đang dần “tuyệt chủng” ở Hạ Long theo quy luật tự nhiên. Hạ Long giờ đây đã vắng hẳn những cánh buồm. Người ta nhìn thấy những cánh buồm ở hạ Long giờ đây họa chăng chỉ là những vật trang trí trên những chiếc du thuyền chạy máy mà thôi.
…Sự tái sinh
Ngày nay, thú chơi mô hình tàu cổ nổi lên như một hiện tượng mới trong người Việt Nam, với tàu buồm trong phong thủy luôn là biểu tượng của sức mạnh, sự thành công, và giàu có, là một tin mừng đối với những ai đam mê văn hóa Việt và muốn truyền bá cũng như lưu giữ lại nét đẹp cổ xưa của tàu Việt cổ.
Năm 2010 cùng với sự trăn trở và đam mê tàu Việt, Zerocomma Team là một nhóm bạn gồm 4 người sau hai năm ròng nghiên cứu, tìm kiếm các thông tin lịch sử về tàu Vịnh Hạ Long đã thành công trong việc phục dựng lại chiếc tàu buồm Vịnh Hạ Long dưới dạng mô hình theo tỷ lệ 1/45. Mô hình gần như hoàn toàn giống với chiếc tàu Hạ Long thật trong lịch sử, với khả năng chạy được trong nước bằng gió với cánh buồm và nếu trong điều kiện thích hợp thì có thể đi ngược gió. Với dự định của nhóm trưởng Trần Sơn Tùng, anh sẽ tung ra sản phẩm dưới dạng đồ chơi lắp ghép mô hình tàu Hạ Long nhằm kết nối đam mê với các những ai yêu thích tàu việt như mình và sẽ cho ra đời sản phẩm này vào ngày 11/11/2011.



Mẫu thành phẩm của mô hình lắp ghép tàu Vịnh hạ long dự định sẽ được cho ra mắt